Những bệnh cần tiêm chủng và lịch tiêm chủng cho trẻ

0
14
Lịch tiêm chủng cho trẻ

Hiện nay Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia đang thực hiện tiêm chủng miễn phí các vắc xin phòng ngừa 10 loại bệnh gồm sởi, bại liệt, uốn ván, bạch hầu, ho gà, lao, tả, thương hàn, viêm gan siêu vi B, viêm não Nhật Bản. Theo đó, các bà mẹ cần nắm được kiến thức cơ bản về các loại bệnh này để đưa con đi tiêm chủng đúng lịch.

10 bệnh nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng

1. Bệnh sởi

Sởi là bệnh truyền nhiễm cấp tính gây dịch thường gặp ở trẻ em do virus thuộc họ Paramixovirut influenzae, giống Morbillivirut gây nên. Bệnh lây qua đường hô hấp với biểu hiện sốt cao đột ngột, viêm long đường hô hấp, có thể thấy nốt koplik trong miệng, sau đó bắt đầu phát ban từ sau tai lan ra đầu mặt cổ rồi xuống thân mình và chân tay; khi đã lan xuống hết toàn bộ cơ thể thì ban bắt đầu bay theo tuần tự như khi xuất hiện và để lại các vết thâm vằn như da hổ. Trường hợp nặng có thể phát ban kèm theo xuất huyết, biến chứng bội nhiễm vào các cơ quan hoặc xuất hiện viêm não chất trắng sau sởi. Chẩn đoán xác định khi phân lập được virút sởi trong máu hoặc xét nghiệm huyết thanh học hai lần bằng phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu thấy động lực kháng thể tăng gấp 4 lần hoặc xét nghiệm thấy xuất hiện.

2. Bệnh bại liệt

Bại liệt là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus bại liệt gây nên với biểu hiện sốt nhẹ, tiêu chảy và liệt mềm cấp tính khi hết sốt. Virus bại liệt xâm nhập theo đường tiêu hóa vào hạch mạc treo đến hệ thần kinh, liệt thường xuất hiện khi có các tổn thương ngẫu nhiên sau tiêm chích và chỉ xuất hiện khoảng 1% ở những người bị nhiễm virus, thường biểu hiện đau cơ trước khi liệt. Liệt do bệnh bại liệt là liệt mềm, không đối xứng, thường bị liệt chân nhiều hơn tay, nếu liệt cơ hô hấp có thể dẫn tới tử vong. Khoảng 90% các trường hợp nhiễm virút bại liệt ở thể ẩn, không có biểu hiện lâm sàng và 1% có biểu hiện viêm màng não nước trong. Cuối năm 2000, Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương tuyên bố đã thanh toán được bệnh bại liệt, trong đó có Việt Nam, tuy nhiên do nhiều nước trên thế giới vẫn chưa thanh toán được bệnh bại liệt nên việc dự phòng bằng vaccin cho trẻ em vẫn cần được tiếp tục.

3. Bệnh uốn ván

Uốn ván là một bệnh cấp tính có tỷ lệ tử vong cao do ngoại độc tố của trực khuẩn uốn ván (clostridium tetani) gây ra, trực khuẩn này phát triển tại vết thương trong điều kiện yếm khí, sau đó giải phóng ngoại độc tố vào dòng máu và tấn công vào các bản vận động thần kinh cơ làm cho bệnh nhân bị co cứng cơ và trên nền cứng đó xuất hiện các cơn co giật. Cơn co giật thường xuất hiện khi có kích thích nhưng cũng có thể xuất hiện tự nhiên, tùy theo mức độ nhiễm độc, vị trí vết thương và độ rộng cũng như điều kiện yếm khí tại vết thương, biểu hiện lâm sàng có thể là uốn ván khu trú (uốn ván thể đầu, giật một chi) hay uốn ván toàn thể, thời kỳ ủ bệnh thường trong vòng 4-21 ngày. Uốn ván sơ sinh là một trong những nguyên nhân gây chết hàng đầu ở một số nước đang phát triển nhưng ở các nước phát triển là một bệnh thường gặp ở người già. Tử vong uốn ván là do suy hô hấp, rối loạn thần kinh thực vật và ngừng tim; tỷ lệ tử vong tuỳ thuộc vào điều kiện hồi sức cấp cứu và điều trị sớm hay muộn nhưng tỷ lệ chết rất cao từ 10-80%. Điều trị uốn ván bao gồm việc xử trí mở rộng vết thương loại bỏ điều kiện yếm khí, dùng penicillin để diệt vi khuẩn kết hợp với liệu pháp huyết thanh, chống co giật và hồi sức. Bệnh uốn ván có thể dự phòng nhờ có vaccin uốn ván thường được sản xuất phối hợp với vaccin phòng bạch hầu và ho gà.

4. Bệnh bạch hầu

Bạch hầu là một bệnh lây cấp tính gây dịch do corynebacterium diphtheriae gây ra. Các bệnh cảnh lâm sàng thường gặp có thể là bạch hầu thường, bạch hầu họng-thanh quản (croup) và bạch hầu ác tính do vi khuẩn đột nhập qua da và niêm mạc gây ra các giả mạc dai tại chổ bị nhiễm khuẩn (thường là ở hầu họng, thanh quản, mũi, mắt, da hoặc bộ phận sinh dục) từ đó vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố vào máu gây nhiễm độc cơ tim, thận các dây thần kinh trung ương và ngoại biên. Chẩn đoán xác định bệnh bạch hầu khi thấy có giả mạc trắng bóng bám chặt vào niêm mạc, giả mạc dai, dính, lan nhanh ở họng và ngoáy rìa giả mạc cấy có vi khuẩn bạch hầu. Trong trường hợp chẩn đoán hoặc nghi ngờ là bạch hầu thì phải được điều trị ngay bằng huyết thanh kháng độc tố bạch hầu (SAD) và các kháng sinh như penicillin hoặc kháng sinh nhóm Macrolides, tỷ lệ tử vong do bệnh bạch hầu có thể từ 5-10%.

5. Bệnh ho gà

Ho gà là một bệnh truyền nhiễm gây dịch lây qua đường hô hấp do vi khuẩn Bordetella pertussis gây ra. Bệnh lây qua giọt nước bọt ngay tại gia đình với tỷ lệ 70-100%, chu kỳ xảy dịch thường từ 3-4 năm 1 lần, ở những quần thể chưa được miễn dịch, bệnh có thể bùng phát thành dịch lớn chủ yếu gặp ở trẻ nhóm tuổi đi học và trẻ nhỏ hơn 6 tháng với biểu hiện bệnh là những cơn ho rũ rượi và khạc đờm, ho có thể kéo dài vài tháng và hay phối hợp với nôn, trẻ nhỏ có thể thấy tím tái ngạt thở và co giật. Vi khuẩn ho gà có thể gây bệnh não do thiếu oxy dẫn đến tử vong với tỷ lệ 0,3% nhưng ở trẻ nhỏ tỷ lệ tử vong có thể lên tới 0,5%. Trên thế giới hàng năm có khoảng 250.000 trẻ em mắc bệnh ho gà, tuy nhiên từ ngày có vacxin tỷ lệ mắc bệnh ho gà đã giảm rõ rệt.

6. Bệnh lao

Bệnh lao là một bệnh phổ biến trên thế giới do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây nên, trong đó lao phổi là bệnh cảnh lâm sàng hay gặp nhất. Hầu hết các trường hợp nhiễm lao không có triệu chứng, những trường hợp suy giảm miễn dịch bị nhiễm lao sẽ có nguy cơ diễn biến nhanh thành lao toàn thể, sau khi nhiễm vi khuẩn lao vài tuần sẽ xuất hiện đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào thể hiện qua phản ứng Tuberculin dương tính. Ở Việt Nam, mỗi năm có khoảng hơn 10.000 trường hợp nhiễm lao mới, Chương trình chống lao quốc gia đang được triển khai thực hiện với liệu trình điều trị ngắn ngày (DOT) đã giảm đáng kể tỷ lệ mắc, tuy nhiên vài năm gần đây tình hình lao kháng thuốc xuất hiện với tỷ lệ đáng kể cùng với đại dịch HIV/AIDS làm cho bệnh lao đang có xu hướng gia tăng nhanh trở lại.

7. Bệnh tả

Bệnh tả là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường tiêu hóa do phẩy khuẩn tả (Vibrio cholera) gây nên, thời kỳ ủ bệnh thường từ vài giờ tới vài ngày, bệnh lây khi còn mầm bệnh trong phân và mạnh nhất trong thời kỳ tiêu chảy, người lành mang vi khuẩn có thể gieo rắc mầm bệnh dài ngày. Nguồn nhiễm khuẩn phổ biến là nước uống, thực phẩm bị nhiễm phẩy khuẩn tả trong/sau khi chế biến, hải sản bắt được từ những vùng nước bị nhiễm tả ăn sống hoặc không nấu kỹ; rau quả chăm bón bằng phân tươi, tưới nước có phân người hoặc vẩy nước bị nhiễm rồi ăn sống. Biểu hiện các thể bệnh nặng chủ yếu là nôn và tiêu chảy dữ dội phân có màu trắng như nước vo gạo hoặc màu trong lẫn những hạt lổn nhổn trắng như hạt gạo, nếu không được điều trị sẽ nhanh chóng dẫn đến mất nước, nhiễm độc acid, trụy mạch, hạ huyết áp và sốc dẫn tới tử vong. Tỷ lệ mắc/chết có thể lên tới 50% tùy từng vụ dịch, nếu được điều trị tốt thì tỷ lệ tử vong khoảng 1%. Sử dụng kháng sinh sẽ rút ngắn thời kỳ lây truyền, hiếm khi có những trường hợp mang mầm bệnh kéo dài nhiều năm và đào thải vi khuẩn từng đợt qua phân. Nguy cơ mắc bệnh tùy đối tượng, người thiểu năng acid dịch vị có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, trẻ bú sữa mẹ ít khi mắc bệnh. Bệnh tả nặng do type sinh học Eltor hoặc O139 thường gặp ở người có nhóm máu O, sau khi mắc bệnh miễn dịch thu được sẽ bảo vệ chống tái nhiễm trong thời gian dài. Tác nhân gây bệnh (phẩy khuẩn tả) nhóm huyết thanh O1 có 2 type cổ điển và eltor, những vụ dịch từ năm 1960 trở lại đây chủ yếu do V.eltor gây ra. Vi khuẩn có 3 type huyết thanh là Inaba, Ogawa và Hikojima; Tuy nhiên đến năm 1992, phát hiện thêm một type huyết thanh mới là Vibrio Cholera O139, có sức đề kháng cao, có thể sống được nhiều ngày ở ngoài môi trường.

8. Bệnh thương hàn

Thương hàn là một bệnh truyền nhiễm gây dịch lây qua đường tiêu hóa do vi khuẩn thương hàn hoặc phó thương hàn đột nhập qua đường tiêu hóa tới lách, nhân lên vào máu gây ra bệnh cảnh nhiễm trùng nhiễm độc. Trực khuẩn thương hàn (Salmonella typhi) gram âm, có 107 type kháng nguyên và 3 phó thương hàn là S.enteritidis (Para A), S.schottmulleri (Para B), S.hirschfeldii (Para C). Vi khuẩn có sức đề kháng cao, có thể sống hàng tháng ở ngoài môi trường, ở 55oC nó bị chết sau 30 phút, cồn và các thuốc sát khuẩn diệt vi khuẩn trong vòng 3-5 phút. Vi khuẩn đã kháng với nhiều kháng sinh cổ điển như Chlorocid, Bactrim, Ampicillin nhưng vẫn còn nhạy với Quinolone và Cephalosporine thế hệ 3. Hàng năm trên thế giới có khoảng 17 triệu trường hợp mắc với khoảng 600.000 người chết do thương hàn, Việt Nam có khoảng 10.000 đến 20.000 trường hợp mắc với hàng chục trường hợp tử vong. Ổ chứa chính của bệnh thương hàn là người bị mắc bệnh do dùng thức ăn hoặc uống nước bị nhiễm vi khuẩn thương hàn như uống nước chưa đung sôi bị nhiễm mầm bệnh (nước lã, nước đá); ăn thức ăn bị nhiễm vi khuẩn và nguồn nước bị nhiễm bẩn chưa được nấu chín; ăn sống rau quả được bón bằng phân tươi, sữa và các chế phẩm bị nhiễm vi khuẩn thương hàn khi chế biến, ruồi gây nhiễm bẩn thực phẩm và trong môi trường thực phẩm đó vi khuẩn nhân lên đủ liều gây bệnh. Khoảng 10% bệnh nhân không được điều trị sẽ thải vi khuẩn qua phân trong vòng 3 tháng và khoảng 2-5% số bệnh nhân trở thành người mang trùng mãn tính. Biểu hiện lâm sàng là có sốt tăng dần, rối loạn tiêu hóa, bụng chướng có dấu hiệu ùng ục hố chậu phải, phát ban dạng sởi ở vùng quanh thắt lưng. Ðộc tố thương hàn tác động vào các mảng bạch huyết ở họng và ruột gây ra loét họng, loét ruột gây chảy máu ruột; gây nhiễm độc cơ tim gây viêm cơ tim, trụy tim mạch; nhiễm độc tố vào não thất 3 gây mạch nhiệt phân ly, não viêm thương hàn. Chẩn đoán xác định khi cấy máu có vi khuẩn thương hàn qua phản ứng Widal hoặc sử dụng kháng thể đơn dòng phát hiện kháng nguyên H trong máu bệnh nhân.

9. Bệnh viêm gan B

Virut viêm gan B thuộc nhóm virut Hepadna, là tác nhân gây viêm gan virut B phổ biến ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Trên thế giới nhất hàng năm có khoảng 200 triệu người bị viêm gan B, trong đó Việt Nam tỷ lệ người lành mang trùng khá cao từ 15-25%. Bệnh lây qua đường máu, đường tình dục và lây từ mẹ sang con chủ yếu trong kỳ chu sinh. Biểu hiện lâm sàng của bệnh ở thời kỳ khởi phát giống như cảm cúm (còn gọi là giả cúm) như sốt, mệt mỏi, chán ăn, đi tiểu ít và nước tiểu sẫm màu, người bệnh rất mệt mỏi nhưng tình trạng nhiễm khuẩn lại rất thô sơ. Thời kỳ toàn phát, bệnh nhân thường có biểu hiện vàng da vàng mắt, có thể phát ban dạng sởi trên da, gan to, đôi khi kèm lách to. Xét nghiệm thường thấy men gan tăng cao nhất là men SGPT (cao gấp 5-10 lần so với bình thường), Bilỉubine máu tăng. Phần lớn các trường hợp viêm gan cấp diễn biến trong vòng 4-6 tuần rồi khỏi về mặt lâm sàng, theo qui ước viêm gan cấp sẽ được ổn định trong vòng 6 tháng. Viêm gan B có thể diễn biến thành viêm gan mạn tính, sơ gan và ung thư gan nguyên phát với các tỷ lệ khác nhau tùy từng khu vực và đáp ứng miễn dịch của cơ thể bệnh nhân.

10. Bệnh viêm não Nhật Bản

Viêm não Nhật Bản là một bệnh nhiễm virut cấp tính ở thần kinh trung ương do virut thuộc nhóm Flavi họ arbovirut nhóm B gây ra lưu hành rộng rãi ở các nước châu Á, trong đó Việt Nam bệnh xảy ra từ tháng 4-9, đỉnh cao là tháng 6-7 hàng năm, thường nặng hay để lại di chứng liệt hoặc rối loạn thần kinh, tâm thần và tỷ lệ tử vong cao. Ổ chứa thiên nhiên của viêm não Nhật Bản, chủ yếu là lợn và chim, những động vật khác cũng bị nhiễm virut nhưng vai trò truyền bệnh ít quan trọng bằng. Bệnh lây truyền từ động vật sang người qua véc tơ truyền bệnh là muỗi Culex, trong đó chủ yếu là 2 loài Culex tritaeniorhynchus và Culex vishnui. 2 loại muỗi này sinh sản ở đồng ruộng lúa nước, buổi tối bay về chuồng gia súc, hút máu súc vật bị bệnh rồi truyền sang người. Muỗi Culex tritaeniorhynchus có thể bay xa trên 1km, cao 13-15m nên có thể lây truyền virut cho các loài chim, muỗi nhiễm virut có khả năng truyền bệnh suốt đời và truyền sang thế hệ sau qua trứng.

Lịch tiêm chủng cho trẻ cha mẹ cần biết

1. Chương trình tiêm chủng mở rộng

Tuổi của trẻ

Vắc xin

Phòng bệnh

Sơ sinh

BCG

Viêm gan B

Lao

Viêm gan B

2 tháng tuổi

Quinvaxem mũi 1

 

OPV uống lần 1

Viêm gan siêu vi B, viêm màng não mủ do Hib, bạch hầu, uốn ván, ho gà.

Bại liệt

3 tháng tuổi

Quinvaxem mũi 2

 

OPV uống lần 2

Viêm gan siêu vi B, viêm màng não mủ do Hib, bạch hầu, uốn ván, ho gà.

Bại liệt

4 tháng tuổi

Quinvaxem mũi 3

 

OPV uống lần 3

Viêm gan siêu vi B, viêm màng não mủ do Hib, bạch hầu, uốn ván, ho gà.

 

Bại liệt

9 tháng tuổi

Sởi mũi 1

Sởi

18 tháng tuổi

DPT

Sởi mũi 2

Bạch hầu, uốn ván, ho gà.

Sởi

2. Các mũi tiêm chủng theo yêu cầu

Ngoài các vaccine được tiêm miễn phí trong Chương trình tiêm chủng mở rộng nêu trên, các bậc phụ huynh có thể lựa chọn những loại vaccine dịch vụ theo yêu cầu nếu xét thấy cần thiết đối với các

  • bệnh viêm màng não mủ do Heamophilus Influenza B (Hib) tiêm chủng từ 2 tháng tuổi trở lên và tiêm nhắc lại tùy theo tháng tuổi, có thể kết hợp chủng Infanix hexa (6 loại: DTC, Polio, VGSVB, Hib), Pentaxim (5 loại: DTC, Polio, Hib), Tetract Hib (4 loại: DTC, Hib).
  • Sởi-quai bị-Rubeol (Rubella) tiêm chủng từ 15 tháng tuổi.
  • Thủy đậu tiêm một mũi duy nhất từ 12 tháng tuổi.
  • Viêm não Nhật Bản B được chủng khi trẻ > 12 tháng tuổi, tiêm 3 mũi (mũi 1 và mũi 2 cách nhau 1-2 tuần, mũi 3 cách mũi 1 sau 1 năm) nhắc lại mỗi 3 năm.
  • Cúm từ 6 tháng tuổi trở lên.
  • Viêm màng não do Meningoccoci A + C (não mô Cầu A + C).
  • Ngừa tiêu chảy do Rota vi-rút đối với trẻ từ 2 đến 6 tháng tuổi;
  • Viêm gan siêu vi A từ 1 tuổi trở lên;
  • Thương hàn: đối với trẻ từ 5 tuổi trở lên

Và các loại vaccin khác nếu có nhu cầu.

STT

Vắc xin

Phòng bệnh

Lịch tiêm

1

Engerix B

Viêm gan B

3 liều (liều 1, liều 2 cách liều đầu 1 tháng, liều 3 cách liều đầu 6 tháng) hoặc

4 liều (liều 1, liều 2 cách liều đầu 1 tháng, liều 3 cách liều đầu 2 tháng, liều 4 cách liều đầu 12 tháng (Dùng cho đối tượng nguy cơ cao, thường xuyên tiếp xúc người bị viêm gan B).

2

Euvax

Viêm gan B

3 liều: liều 1, liều 2 cách liều đầu 1 tháng, liều 3 cách liều đầu 6 tháng.

3

HB Vax-Pro

Viêm gan B

3 liều cách nhau ít nhất 1 tháng

4

Vaxigrip

Cúm

Trẻ từ 6-36 tháng 2 liều 0,25ml cách nhau 1 tháng, sau đó nhắc lại mỗi năm 1 liều. Trẻ từ 3-8 tuổi 2 liều 0,5ml cách nhau 1 tháng, sau đó nhắc lại mỗi năm 1 liều. Trẻ ≥ 9 tuổi, mỗi năm 1 liều 0,5ml.

5

Fluarix

Cúm

6

Influvax

Cúm

7

Rotarix

Tiêu chảy do rotavirus

Trẻ từ 6 tuần- 6 tháng tuổi: uống 2 liều cách nhau ít nhất 4 tuần.

8

Rotateq

Tiêu chảy do rotavirus

Trẻ từ 7,5 tuần – <32 tuần tuổi: uống 3 liều cách nhau ít nhất 4 tuần.

9

Act-Hib

Viêm màng não mủ do Hib

Trẻ 2-6 tháng tuổi: 3 liều cách nhau tối thiểu 1 tháng. Trẻ 6-12 tháng tuổi: 2 liều cách nhau tối thiểu 1 tháng. Trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi: 1 liều.

10

Hiberix

Viêm màng não mủ do Hib

11

Infanrix Hexa

Ngừa 6 bệnh: Bạch hầu, uốn ván, ho gà, bại liệt, viêm màng não mủ do Hib và viêm gan siêu vi B.

Trẻ từ 2-12 tháng: 3 liều cách nhau tối thiểu 1 tháng. Trẻ từ 12 -24 tháng: Nhắc lại 1 liều.

12

Pentaxim

Ngừa 5 bệnh: Bạch hầu, uốn ván, ho gà, bại liệt, viêm màng não mủ do Hib.

Trẻ từ 2-12 tháng: 3 liều cách nhau tối thiểu 1 tháng, từ 12 -24 tháng nhắc lại 1 liều.

13

Tetraxim

Ngừa 4 bệnh: Bạch hầu, uốn ván, ho gà, bại liệt.

Trẻ từ 2-12 tháng: 3 liều cách nhau tối thiểu 1 tháng; từ 12 -24 tháng nhắc lại liều thứ tư; từ 5-13 tuổi nhắc liều thứ năm.

14

Okavax

Thủy đậu

Trẻ từ 12 tháng- 13 tuổi: 1 liều; từ 13 tuổi 2 liều cách nhau tối thiểu 1-2 tháng.

15

Varilrix

Thủy đậu

Từ 12 tháng: 2 liều cách nhau tối thiểu 1-2 tháng.

16

MMR

Sởi- Quai bị- Rubella

Trẻ từ 12 tháng- 6 tuổi2 liều cách nhau 3-5 năm; từ 6 tuổi: 1 liều.

17

Priorix

Sởi- Quai bị- Rubella

18

Meningo AC

Não mô cầu

Trẻ từ 2 tuổi: 1 liều nhắc lại mỗi 3 năm khi có dịch.

19

Typhim

Thương hàn

Trẻ từ 2 tuổi 1 liều, nhắc lại mỗi 3 năm nếu có nguy cơ mắc bệnh cao.

20

Pneumo 23

Viêm phổi, viêm màng não do phế cầu

Trẻ từ 2 tuổi: 1 liều, nhắc lại mỗi 3 năm nếu có nguy cơ mắc bệnh cao.

21

Gardasil

Ngừa ung thư cổ từ cung do HPV

Trẻ từ 9-26 tuổi: Liều 1, liều 2 cách liều đầu 2 tháng, liều 3 cách liều đầu 6 tháng.

22

Cervarix

Ngừa ung thư cổ từ cung do HPV

Trẻ từ 10-25 tuổi: liều 1, liều 2 cách liều đầu 1 tháng, liều 3 cách liều đầu 6 tháng.

23

Adacel

Bạch hầu, uốn ván, ho gà

Trẻ em > 15 tuổi: 1 liều duy nhất.

PGS.TS. Triệu Nguyên Trung

Viện sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here